Văn mẫu lớp 11

Phân tích hai khổ thơ cuối của bài thơ Tràng giang.

Đề bài: Em hãy phân tích hai khổ thơ cuối bài thơ Tràng giang của nhà thơ Cù Huy Cận.

Nhắc đến Cù Huy Cận, ta thường nhớ đến một nhà thơ giàu suy tư với những vần thơ u sầu, ảo não. Thông qua những trang thơ văn, Huy Cận đã thể hiện được những cảm xúc chân thành về những cuộc đời, về con người, thơ ông lúc nào cũng chứa đựng một nỗi buồn man mác, “nỗi buồn miên viễn”, một nỗi buồn trải dài với mênh mông của trời đất. Đọc thơ Huy Cận, độc giả thường mang những xúc động, bồi hồi với từng vần thơ, với từng nội dung triết lí nhân sinh ở đời mà nhà thơ truyền tải, bởi những cảm xúc ấy quá đỗi chân thực, nó bắt nguồn từ chính những cảm xúc, những trải nghiệm của nhà thơ trong cuộc đời. Cái ấn tượng mà Huy Cận để lại cho độc giả không chỉ là nỗi buồn, sự suy tư mà trên tất cả, đó chính là sự chiêm nghiệm đầy quý giá trước những vấn đề, hiện tượng tất yếu của cuộc đời này. Cũng được sáng tác trong sự suy tư, trong dòng cảm xúc u buồn, trầm mặc ấy, bài thơ “Tràng giang” tiêu biểu cho cảm hứng thơ văn này của Huy Cận.

Bài thơ “Tràng giang” được sáng tác trong một hoàn cảnh khá đặc biệt, đó là khi nhà thơ một mình ngắm cảnh trên bến đò Chèn, trước không gian sông nước mênh mông, rộng lớn nhà thơ đã có những suy tư về cuộc đời, về con người, đó chính là sự nhỏ bé, vô nghĩa của con người trước sự rộng lớn, vô hạn của cuộc đời. Những cảm xúc buồn bã, suy tư đầy trăn trở ấy của nhà thơ được ghi lại một cách chân thực và sâu sắc qua bài thơ “Tràng giang”. Đặc biệt, qua hai khổ thơ đầu của bài thơ, Huy Cận vừa thể hiện được ngọn nguồn của cảm xúc, cũng là nguyên nhân dẫn đến, nguyên nhân tác động đến tâm trạng, sự suy tư của mình. Và trước sự mênh mông của không gian sông nước ấy, nhà thơ Huy Cận đã thể hiện được những suy nghĩ sâu sắc về cuộc đời, về con người. Trong đó sự sự nhỏ bé, hữu hạn của con người được đặt trong mối quan hệ đối lập với cái rộng lớn, vô hạn của dòng đời:

“Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp

Con thuyền xuôi mái nước song song”

Mở ra trước mắt người đọc, đó chính là không gian rộng lớn, mênh mông của sông nước, của bầu trời. Cùng với sự mênh mông đó chính là nét tịch mịch, vắng lặng của dòng sông. Và chính ngoại cảnh đầy đặc biệt ấy đã tác động sâu sắc đến tâm trạng của nhà thơ, mang đến những cảm giác man mác buồn cùng những suy tư triền miên, không có điểm kết. Bao giờ cũng vậy, đứng trước không gian rộng lớn của thiên nhiên, vũ trụ cũng gợi ra cho con người những cảm nhận thấm thía về sự cô đơn, nhỏ bé của mình. Trong bài thơ này cũng vậy, trước không gian sông nước mênh mông, kì vĩ đã gợi ra những nỗi buồn, làm đậm đặc hơn những suy tư của thi nhân về cuộc đời. Không gian rộng lớn của dòng sông trước hết thể hiện qua hai âm “tràng giang”, âm “tràng” vốn là cách đọc chệch âm của trường, nghĩa là sông dài. Nhưng nếu “trường giang” chỉ gợi ra độ dài cho con sông thì cách dùng “tràng giang” lại gợi ra cho con sông ấy cả độ rộng lớn và mênh mông.

Như vậy, ngay từ đầu nhà thơ Huy Cận đã rất chú ý đến cách lựa chọn, cách dùng từ, đó chính là sự tinh tế, sáng tạo của một nhà thơ tài năng. “Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp”, câu thơ đã gợi ra liên tưởng đến những hình ảnh con sóng nhỏ lăn tăn trên mặt sông đầy vắng lặng, sự vận động chậm dãi, nhẹ nhàng đó càng làm cho nhà thơ cảm nhận thấm thía được sự u buồn, cô đơn “buồn điệp điệp”, đó chính là nỗi buồn như những con sóng nhỏ lăn tăn, tuy nhẹ nhàng, êm ái ấy nhưng lại có tác động mạnh mẽ đến tâm hồn, đến cảm xúc của người thi nhân. Không gian sông nước vốn tịch mịch, u buồn, nên dù có xuất hiện những hình ảnh của con người, gợi liên tưởng đến sự sống thì cũng không làm cho nhà thơ vơi bớt được những nỗi buồn, trút bỏ được những suy tư mà ngược lại càng làm cho nỗi buồn ấy trở nên da diết “Con thuyền xuôi mái nước song song”.

Con thuyền thường gắn liền với sự sống của con người, nhưng hình ảnh con thuyền xuôi mái lại hoàn toàn không gợi ra được sự sống ấy. Sự vận động từ tốn của con thuyền hoàn toàn là do sự trôi chảy của dòng nước, hoàn toàn không có sự tác động có ý thức nào “xuôi mái”. Và hình ảnh con thuyền vẫn tiếp tục mạch nguồn cảm xúc của nhà thơ ở câu thơ sau đó:

“Thuyền về nước lại sầu trăm ngả

Củi một cành khô lạc mấy dòng”

Loading...

Không gian rộng lớn nhưng tịch mịch, con thuyền xuôi mái trong vắng lặng dường như đã trở thành đối tượng của sự suy tư. Trôi chảy trên dòng sông nhưng con thuyền lại thể hiện một sự lạc lõng, nhỏ bé đến đau lòng. Sự vận động của nó hoàn toàn phó mặc vào sự chảy trôi của dòng sông, rõ ràng có sự liên hệ mật thiết đấy nhưng lại không gợi được một chút gắn bó, thân mật. “Thuyền về nước lại sầu trăm ngả”, nhưng một khi vắng đi sự xuất hiện của con thuyền thì dòng sông ấy mới thực sự rơi vào nỗi buồn, tịch mịch tuyệt đối “Sầu về nước lại sầu trăm ngả”. Qua hình ảnh thơ còn gợi cho người đọc liên tưởng đến cuộc sống của con người, cũng là quan hệ của con người đối với cuộc đời rộng lớn. Là sự nhỏ bé, lạc lõng của con người trước sự chảy trôi vô tình của cuộc đời “Củi một cành khô lạc mấy dòng”.

Hình ảnh cành củi khô hiện lên như chính cuộc đời đầy vô nghĩa của con người, trước sự mênh mông, rộng lớn chảy trôi không ngừng của dòng đời thì con người ấy trở nên cô đơn, lạc lõng đến đáng thương. Cũng là sự nổi trôi đầy thăng trầm của cuộc sống. “Lạc mấy dòng” gợi ra cuộc sống không có mục đích, hoàn toàn chịu sự chi phối, đưa đẩy của dòng đời. Đó cũng chính là tâm trạng của nhà thơ khi thời đại nhà thơ sống vốn có nhiều biến động, mang đến cho con người nỗi buồn thời thế. Vẫn dùng thiên nhiên làm cách thức thể hiện nỗi niềm, tâm trạng, ở khổ thơ thứ hai Huy Cận vẫn tiếp tục thể hiện chiều sâu của dòng cảm xúc ấy:

“Lơ thơ cồn cỏ gió đìu hiu

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều”

Không gian vắng lặng của sông nước tiếp tục được nhà thơ Huy Cận đặc tả thông qua hình ảnh lơ thơ của cồn cỏ “Lơ thơ cồn cỏ gió đìu hiu”. Hình ảnh “cồn cỏ” gợi cho người đọc liên tưởng đến những khoảng không gian nhỏ hẹp, xa mờ của những bãi đất giữa sông, sự vắng lặng thể hiện ngay qua các nhà thơ dùng từ, “lơ thơ” gợi ra cái ít ỏi, sự xa cách của các cồn cỏ, “đìu hiu” lại gợi ra cái quạnh quẽ, cô tịch không gian. Trong không gian hoang vắng, mênh mông hoàn toàn không có sự xuất hiện của bất kì sống, không có dấu hiệu nào của con người. Nhà thơ Huy Cận cảm nhận được sự tịch mịch đó nên đã thể hiện sự cảm thán trước sự hoang vắng ấy “Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều”.

Câu thơ thể hiện được một sự trống vắng, hụt hẫng trong cảm xúc của nhà thơ. Bởi tiếng “đâu” của nhà thơ vang lên đầy mất mát, đau lòng, cái khoảng không gian rộng lớn nhưng buồn vắng ấy khiến cho nhà thơ choáng ngợp, làm đậm đặc thêm tâm hồn vốn chất chồng những suy tư. Nên nhà thơ muốn kiếm tìm những dấu hiệu của sự sống, muốn “bấu víu” vào đó để tìm chút ấm áp, chút sự sống. Nhưng ngay cả mong muốn nhỏ nhoi đó cũng trở nên vô vọng bởi “Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều”, nghĩa là không có bất cứ dấu hiệu nào của con người, của sự sống, không gian làng mạc, âm thanh của cuộc sống vốn chỉ tồn tại trong tâm tưởng của nhà thơ:

“Nắng xuống chiều lên sâu chót vót

Sông dài, trời rộng bến cô liêu”

Khi đã vô vọng trong tìm kiếm hơi ấm từ cuộc sống thì nhà thơ Huy Cận lại tiếp tục thể hiện nỗi lòng qua việc miêu tả khung cảnh của bầu trời, của dòng sông. Đó chính là cái sâu thăm thẳm của bầu trời khi nắng xuống, dấu hiệu của một ngày hoàn toàn lùi xuống, dần nhường chỗ cho ánh chiều tà bao phủ không gian “Nắng xuống chiều lên sâu chót vót”. “Chót vót” không chỉ gợi ra độ sâu, cũng như độ rộng của bầu trời, mà còn gợi ra cái suy tư bề bội, ngổn ngang trong tâm hồn của nhà thơ. Dưới không gian sâu thăm thẳm, rộng mênh mông của bầu trời thì dòng sông như dài ra, kéo theo cái rộng lớn của bầu trời làm cho cảnh vật chìm đắm trong sự tịch mịch, cô liêu “Sông dài, trời rộng bến cô liêu”.

“Tràng giang” là bài thơ thể hiện được nhiều suy tư, cảm xúc của nhà thơ Huy Cận, mà trên tất cả đó chính là sự suy tư của về con người và về cuộc đời. Trước không gian mênh mông, kì vĩ của tự nhiên, nhà thơ cảm nhận trọn vẹn sự cô đơn của con người, mà cái cô đơn, nhỏ bé này không chỉ tồn tại ở cá nhân nhà thơ. Mà nó còn là nỗi buồn, sự lạc lõng cô đơn của cả một thế hệ người trong thời đại mà nhà thơ sinh sống. Đặc biệt, qua hai khổ thơ đầu, nhà thơ Huy Cận cũng đã thể hiện được cảm xúc chủ đạo của bài thơ, nỗi buồn được gợi ra một cách đầy khéo léo, tinh tế, thu hút được sự đồng cảm của người đọc, người nghe.

Nguồn: Văn mẫu

Phân tích hai khổ thơ cuối của bài thơ Tràng giang.
4.9 (98.69%) 490 đánh giá

Ứng dụng VĂN MẪU TỔNG HỢP trên điện thoại với hơn 30k bài văn mẫu hay nhất, giải bài tập SGK, soạn văn đầy đủ chi tiết. Hãy tải App ngay để chúng tôi phục vụ bạn tốt hơn nhé!

Nếu thấy bài viết hay, hãy động viên và chia sẻ ban biên tập! Các bình luận không phù hợp sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.

Loading...

Từ khóa từ Google:

  • phân tích 2 khổ cuối bài tràng giang
  • phan tich 2 kho cuoi trong bai trang giang
  • phân tích 2 khổ đầu tràng giang
  • phan tich 2 kho tho cuoi trong bai trang giang
  • phân tích hai khổ cuối bài thơ tràng giang
  • phân tích tràng giang 2 khổ cuối